Chi nhánh Công ty Luật TNHH Trí Minh tại Thành phố Hồ Chí Minh

Kiến nghị về việc: Chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp

50x50
Nội dung kiến nghị:

Trước hết, chúng tôi xin gửi lời chào trân trọng tới quý cơ quan.

Chúng tôi là Chi nhánh Công ty Luật TNHH Trí Minh tại Thành phố Hồ Chí Minh, Giấy phép hoạt động số 41.06.1584/TP/ĐKHĐ do Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh cấp lần đầu ngày 12/10/2011, hoạt động theo sự ủy quyền của Công ty Luật TNHH Trí Minh, Giấy phép số 01010254/TP/ĐKHĐ cấp bởi Sở Tư pháp Hà Nội.

Địa chỉ: Phòng 804, Tầng 8, Số 151 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 6, Quận 3, TPHCM

Điện thoại: 028. 39333323

Trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, chúng tôi gặp vấn đề vướng mắc sau kính đề nghị Văn phòng Chính phủ hỗ trợ gửi Bộ Tài chính giải đáp để giúp chúng tôi thực hiện đúng và giúp đỡ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản cũng thực hiện đúng chính sách pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp:

+ Tại Điểm 2.20 Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/06/2015 sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC quy định: “Trường hợp doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh đã ghi nhận doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng chưa phát sinh đầy đủ chi phí thì được trích trước các khoản chi phí theo quy định vào chi phí được trừ tương ứng với doanh thu đã ghi nhận khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Khi kết thúc hợp đồng, doanh nghiệp phải tính toán xác định chính xác số chi phí thực tế căn cứ các hoá đơn, chứng từ hợp pháp thực tế đã phát sinh để điều chỉnh tăng chi phí (trường hợp chi phí thực tế phát sinh lớn hơn số đã trích trước) hoặc giảm chi phí (trường hợp chi phí thực tế phát sinh nhỏ hơn số đã trích trước) vào kỳ tính thuế kết thúc hợp đồng”.

+ Điểm b, Khoản 1, Điều 89 Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp quy định: “Điều 89. Tài khoản 632 – Giá vốn hàng bán 1. Nguyên tắc kế toán

...b) Trường hợp doanh nghiệp là chủ đầu tư kinh doanh bất động sản, khi chưa tập hợp được đầy đủ hồ sơ, chứng từ về các khoản chi phí liên quan trực tiếp tới việc đầu tư, xây dựng bất động sản nhưng đã phát sinh doanh thu nhượng bán bất động sản, doanh nghiệp được trích trước một phần chi phí để tạm tính giá vốn hàng bán. Khi tập hợp đủ hồ sơ, chứng từ hoặc khi bất động sản hoàn thành toàn bộ, doanh nghiệp phải quyết toán số chi phí đã trích trước vào giá vốn hàng bán. Phần chênh lệch giữa số chi phí đã trích trước cao hơn số chi phí thực tế phát sinh được điểu chỉnh giảm giá vốn hàng bán của kỳ thực hiện quyết toán.

Việc trích trước chi phí để tạm tính giá vốn bất động sản phải tuân thủ theo các nguyên tắc sau:

- Doanh nghiệp chỉ được trích trước vào giá vốn hàng bán đối với các khoản chi phí đã có trong dự toán đầu tư, xây dựng nhưng chưa có đủ hồ sơ, tài liệu để nghiệm thu khối lượng và phải thuyết minh chi tiết về lý do, nội dung chi phí trích trước cho từng hạng mục công trình trong kỳ.

- Doanh nghiệp chỉ được trích trước chi phí để tạm tính giá vốn hàng bán cho phần bất động sản đã hoàn thành, được xác định là đã bán trong kỳ và đủ tiêu chuẩn ghi nhận doanh thu.

- Số chi phí trích trước được tạm tính và số chi phí thực tế phát sinh được ghi nhận vào giá vốn hàng bán phải bảo đảm tương ứng với định mức giá vốn tính theo tổng chi phí dự toán của phần hàng hóa bất động sản được xác định là đã bán (được xác định theo diện tích)...”.

Căn cứ các quy định trên thì doanh nghiệp là chủ đầu tư kinh doanh bất động sản được phép trích trước chi phí để tạm tính giá vốn bất động sản khi đã phát sinh doanh thu nhượng bán bất động sản nhưng chưa tập hợp được đầy đủ hồ sơ, chứng từ về các khoản chi phí liên quan trực tiếp tới việc đầu tư, xây dựng bất động sản. Tuy nhiên, chúng tôi còn có những thắc mắc sau:

(1) Điểm 2.20, Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC với tiêu đề là “Các khoản chi phí trích trước theo kỳ hạn, theo chu kỳ mà đến hết kỳ hạn, hết chu kỳ chưa chi hoặc chi không hết” lại thuộc Khoản 2, Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC quy định về “Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế”.

Vậy, đối với nội dung quy định doanh nghiệp được “trích trước các khoản chi phí theo quy định vào chi phí được trừ tương ứng với doanh thu đã ghi nhận khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp” thì ứng với các khoản chi phí trích trước này (chi phí chưa chi trả đầy đủ, chưa tập hợp được đầy đủ hồ sơ, chứng từ do các hợp đồng liên quan đến dự án xây dựng kinh doanh bất động sản kéo dài) doanh nghiệp có được trừ các chi phí này khi xác định thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế đã ghi nhận doanh thu không hay đây là các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế và phải đợi đến lúc quyết toán toàn bộ hợp đồng, dự án thì mới được trừ?

(2) Đối với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản thì dự án xây dựng và kinh doanh bất động sản có thể kéo dài nhiều năm. Vậy căn cứ các quy định trên thì đây có phải trường hợp doanh nghiệp được quyết toán theo dự án không?

Việc làm rõ các vấn đề trên rất quan trọng nhằm giúp các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản bảo đảm việc tuân thủ chính sách pháp luật về thuế và phát triển bền vững. Kính mong Văn phòng Chính phủ sớm chuyển Bộ Tài chính giải đáp những thắc mắc trên của chúng tôi.

Xin chân thành cảm ơn quý cơ quan.

Trân trọng./.

  • Ngày 15/5/2019, Văn phòng Chính phủ có Văn bản số 4105/VPCP-ĐMDN chuyển kiến nghị đến Bộ Tài chính để xem xét, xử lý và trả lời doanh nghiệp theo thẩm quyền, gửi Văn phòng Chính phủ để công khai trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trước ngày 15/6/2019.
50x50
Bộ Tài chính trả lời:

Ngày 24/6/2019, Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính có Văn bản số 2541/TCT-CS trả lời doanh nghiệp.

0

5

Protected by FormShield
Refresh

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.